Nhà xe tuyến Cà Mau: điểm cuối bản đồ, và câu hỏi có nên mua xe lạnh
Cà Mau là điểm cuối. Chạy tới đây rồi thì không còn tỉnh nào phía dưới để đi tiếp, và đó là đặc điểm định hình toàn bộ bài toán kinh doanh của tuyến.
Bài này nói về hai chuyện mà nhà xe tuyến này phải quyết: có đầu tư xe lạnh không, và chiều về gom kiểu gì khi mình đang ở điểm cuối bản đồ.
Vòng quay của tuyến sau khi có cao tốc
Tuyến cao tốc Cần Thơ - Cà Mau dài 111 km đã thông xe, rút thời gian từ TPHCM về cực Nam còn khoảng 3,5 tới 4 tiếng, giảm một nửa so với đi quốc lộ 1. Đường quốc lộ 1A khoảng 370 km và mất 7 tới 8 tiếng.
Chênh lệch này đổi hẳn cách xếp lịch xe.
| Đi cao tốc | Đi quốc lộ 1 | |
|---|---|---|
| Một chiều | 3,5 - 4 tiếng | 7 - 8 tiếng |
| Đi và về trong ngày | Làm được | Không làm được |
| Phí đường | Có | Không có phí cao tốc |
| Máy lạnh chạy | Ít hơn một nửa | Gấp đôi thời gian |
Dòng cuối cùng là dòng riêng của tuyến này. Máy lạnh chạy bằng nhiên liệu riêng và tính theo giờ, không theo cây số. Xe lạnh đi cao tốc tiết kiệm nhiên liệu lạnh gần một nửa, và khoản đó thường bù được phí đường.
Với xe thường thì bài toán là tiện lợi. Với xe lạnh thì đi cao tốc gần như luôn có lợi.
Có nên đầu tư xe lạnh không
Đây là câu hỏi lớn nhất của tuyến, và câu trả lời phụ thuộc vào việc mình có mối đều hay không.
Cà Mau chiếm khoảng 40% tổng diện tích nuôi tôm cả nước và gần 50% giá trị xuất khẩu tôm. Kim ngạch xuất khẩu tôm đạt 1.120 triệu đô la trong năm 2024, và tôm Cà Mau có mặt ở hơn 90 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Quy mô đó nghĩa là nguồn hàng lạnh ở đây rất lớn. Nhưng lớn không đồng nghĩa dễ ăn.
Mặt lợi của xe lạnh
Ít xe cạnh tranh hơn hẳn xe thường. Giá cước cao hơn. Vào vụ thu hoạch, nhu cầu dồn lên trong thời gian ngắn mà xe lạnh thì ít, nên ai có xe là có việc.
Khách hàng lạnh cũng giữ mối lâu hơn khách hàng thường, vì đổi nhà xe là rủi ro với họ.
Mặt khó
Vốn đầu tư cao hơn xe thường nhiều. Chi phí vận hành có thêm nhiên liệu chạy máy lạnh. Bảo dưỡng phức tạp hơn, và máy lạnh hỏng giữa đường là mất cả lô hàng chứ không phải trễ vài tiếng.
Quan trọng nhất: xe lạnh chạy rỗng lỗ nặng hơn xe thường, vì vốn đã cao mà công suất lại kén hàng.
Kết luận dùng được
Xe lạnh đáng đầu tư khi đã có ít nhất một mối đều, không phải khi mới nhìn thấy thị trường lớn. Nhà xe mới nên chạy xe thường trước, làm quen vùng và xây mối, rồi mới lên xe lạnh.
Ba mức nhiệt và chuyện xếp xe
Nhận hàng lạnh thì phải hiểu điều này, nếu không sẽ nhận sai và mất khách.
Đông lạnh sâu. Tôm, cá đông lạnh xuất khẩu. Cần giữ mức âm sâu và ổn định. Rã rồi đông lại là mất chất lượng thấy rõ, và chủ hàng biết ngay khi kiểm.
Hàng mát. Hàng chế biến giữ mát chứ không đông. Mức nhiệt khác hẳn.
Khô nhưng sợ nóng. Tôm khô, cá khô. Không cần máy lạnh, chỉ cần thùng kín.
Luật cứng: một thùng chỉ chạy được một mức nhiệt. Nhận ghép hàng đông lạnh với hàng mát trong cùng một thùng là hỏng một trong hai, và mất khách cả hai.
Nhà xe muốn ăn cả hai nhóm thì phải có xe chia buồng, hoặc chạy riêng từng chuyến.
Chuỗi lạnh đứt ở đâu: bốn chỗ nhà xe phải giữ
Hàng lạnh hỏng thường không hỏng lúc xe đang chạy, mà hỏng ở khoảng hở giữa các chặng. Đây là chỗ nhà xe giỏi khác nhà xe thường.
Lúc xếp hàng. Tới nơi phải chạy máy lạnh sẵn rồi mới xếp, đừng để hàng nằm ngoài chờ.
Lúc mở thùng dọc đường. Mỗi điểm giao là một lần thất thoát. Sắp thứ tự giao sao cho hàng nhạy nhất ra sau cùng, hoặc ra trước tùy loại.
Lúc chờ giao. Xác nhận giờ với người nhận trước khi khởi hành. Xe chờ là máy lạnh vẫn nổ, tốn nhiên liệu mà không ai trả.
Lúc xe hỏng. Phải có phương án. Chủ hàng nghiêm túc sẽ hỏi câu này, và trả lời được là điểm cộng lớn.
Cỡ xe nào hợp tuyến này
Tuyến này có hai lớp việc rõ rệt, và mỗi lớp ăn một cỡ xe khác nhau.
| Cỡ xe | Chở được khoảng | Hợp với việc gì ở Cà Mau |
|---|---|---|
| 1 - 1,25 tấn | 5 - 6 khối | Trung chuyển từ vuông, từ xã xa ra điểm tập kết |
| 1,5 - 2 tấn | 8 - 12 khối | Gom nội vùng, vào đường nhỏ ven sông |
| 3,5 tấn | 15 - 18 khối | Hàng lẻ ghép lên Sài Gòn |
| 5 tấn | 20 - 25 khối | Cỡ chạy tuyến phổ biến nhất |
| 8 tấn | 30 - 38 khối | Gom nhiều chủ hàng, hàng nông sản đóng bao |
| Xe lạnh 1,5 - 5 tấn | Theo dung tích buồng lạnh | Thủy sản, hàng chế biến |
Con số khối là mức thường gặp, còn tùy thùng kín hay bạt.
Chỗ khác biệt của xe lạnh: dung tích chở được luôn nhỏ hơn xe thường cùng cỡ, vì buồng lạnh chiếm chỗ bởi lớp cách nhiệt dày và cụm máy. Ai quen tính khối theo xe thường mà áp sang xe lạnh sẽ nhận quá tay rồi phải bỏ hàng lại.
Khi báo giá xe lạnh, hỏi dung tích buồng thật chứ đừng lấy theo tấn của xe nền. Đây là lỗi phổ biến của nhà xe mới chuyển từ xe thường sang xe lạnh.
Bài toán chiều về ở điểm cuối bản đồ
Đây là chỗ khác biệt của Cà Mau so với các tỉnh miền Tây khác.
Ở Cần Thơ hay Vĩnh Long, xe còn đi tiếp xuống dưới hoặc vòng qua tỉnh bên. Ở Cà Mau thì hết đường, chỉ có quay lên.
Hệ quả: xe nào xuống tới đây cũng phải tìm hàng lên, nên cạnh tranh hàng chiều lên gắt hơn các tỉnh giữa. Ai không có mối sẵn thì phải chờ, mà chờ thì tốn ngày.
Ba cách nhà xe thường dùng
Một, gắn với một nhà máy chế biến hoặc một vựa. Có mối cố định thì không phải tranh hàng lúc dồn.
Hai, gom dọc tuyến lên. Cà Mau lên Bạc Liêu lên Sóc Trăng, mỗi chặng nhặt thêm. Cách này chậm hơn nhưng lấp được xe.
Ba, nhận chuyến giao hàng xuống rồi mới lo chiều lên. Chấp nhận giá mềm cho chiều lên miễn bù được dầu, coi như chuyến xuống đã lời.
Với xe lạnh, cách một gần như bắt buộc. Xe lạnh không đủ sức chịu kiểu gom lắt nhắt.
Vùng sông nước: chuyện trung chuyển
Cà Mau nhiều sông rạch, nhiều nơi đường bộ vào không đủ rộng cho xe lớn. Hàng từ vuông tôm hay từ xã xa thường phải chở bằng phương tiện nhỏ ra điểm tập kết rồi mới sang xe lớn.
Với nhà xe, đây vừa là chi phí vừa là cơ hội.
Chi phí, vì thêm một khâu và thêm thời gian chờ. Với hàng lạnh thì đây còn là chỗ nguy hiểm nhất cho chuỗi lạnh.
Cơ hội, vì xe nhỏ chạy khâu trung chuyển này có việc đều, ít cạnh tranh hơn chạy tuyến dài. Nhà xe nhỏ chưa đủ sức chạy lên Sài Gòn có thể sống được ở khâu này.
Bảng so ba hướng làm ăn trên tuyến
| Hướng | Tiền | Cạnh tranh | Vốn | Rủi ro |
|---|---|---|---|---|
| Xe lạnh chạy hàng thủy sản | Cao | Ít | Cao | Máy hỏng là mất cả lô |
| Xe thường chạy hàng lẻ | Vừa | Nhiều | Vừa | Chiều lên phải tranh hàng |
| Xe nhỏ chạy trung chuyển nội vùng | Vừa | Ít | Thấp | Phụ thuộc nhà xe lớn |
Hướng thứ ba là hướng nhiều người xem nhẹ. Không oai bằng chạy tuyến dài, nhưng đều việc và ít vốn.
Điều chủ hàng hỏi mà nhà xe hay trả lời hụt
“Xe giữ được mức nhiệt nào?” - nói con số, đừng nói “lạnh lắm”. Chủ hàng thủy sản hỏi rất kỹ.
“Xe dừng mấy điểm trước khi tới chỗ tôi?” - với hàng lạnh, câu này quan trọng ngang câu hỏi giá.
“Máy lạnh hỏng giữa đường thì sao?” - có phương án và nói được là thắng đối thủ ngay.
“Xe mấy tấn vào tới chỗ tôi được?” - vùng sông nước nên câu này hỏi thường xuyên. Biết đường thì trả lời ngay, không biết thì hỏi lại địa chỉ cụ thể chứ đừng đoán.
Tìm hàng và tìm xe tuyến Cà Mau
Nhà xe chạy tuyến này có thể đăng tuyến và loại hàng nhận lên timhangxetai.com để chủ hàng tìm thấy. Chủ hàng cần gửi cũng đăng tin để nhà xe chạy tuyến đó liên hệ.
Chỗ này là nơi hai bên gặp nhau, không phải nhà xe, nên không đứng về bên nào.
Đăng tin nên ghi rõ: có xe lạnh không và giữ được mức nhiệt nào, cỡ xe, có đi cao tốc không, có nhận trung chuyển nội vùng không, và tần suất chuyến lên Sài Gòn. Ở tuyến này, ghi rõ mức nhiệt là thứ khiến tin của mình khác hẳn tin người khác.
Anh em chạy ghép hàng lẻ tuyến Cà Mau cũ, xem thêm cách chia điểm trả xe ghép đi Cà Mau.
Bài viết liên quan
- Chạy Xe Tải 750kg Có Đủ Sống: Nhà Xe Tính Trước Mấy Con Số
- Cho Thuê Xe Tải Theo Tháng: Nhà Xe Nên Nhận Hay Không
- Gửi hàng qua nhà xe hay chành xe, nên chọn cách nào
Quy định nhắc trong bài tra tại Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.